Cách gì để biết và phòng ngừa?

0
8

Viêm màng ngoài tim co thắt là tổn thương sau một quá trình xơ hoá gây dày dính màng ngoài tim. Hậu quả là màng ngoài tim bị xơ cứng, hạn chế tim giãn ra trong thì tâm trương, gây tăng áp lực trong buồng tim,

Viêm màng ngoài tim co thắt là tổn thương sau một quá trình xơ hoá gây dày dính màng ngoài tim. Hậu quả là màng ngoài tim bị xơ cứng, hạn chế tim giãn ra trong thì tâm trương, gây tăng áp lực trong buồng tim, đồng thời làm mất sự tương đồng giữa áp lực trong buồng tim và áp lực của lồng ngực, dẫn đến suy tim ứ huyết.

Sau nhiễm khuẩn, chấn thương, ung thư dễ viêm màng ngoài tim

Nhiều nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân bị các bệnh: lao, nhiễm vi khuẩn, virut, nấm, ký sinh trùng đều dễ bị viêm màng ngoài tim co thắt, trong đó bệnh nhân lao mắc nhiều nhất. Các bệnh rối loạn miễn dịch như thấp tim, lupus ban đỏ, sarcoidose cũng dễ bị viêm màng ngoài tim. Người bị chấn thương hoặc phẫu thuật tim, đặc biệt các trường hợp phẫu thuật tim có tràn máu màng tim rất dễ bị viêm màng ngoài tim co thắt sau này.

Các bệnh nhân điều trị bằng tia xạ sau nhiều năm có thể bị rủi ro biến chứng muộn của xạ trị liệu dẫn đến viêm màng ngoài tim co thắt. Bệnh nhân bị ung thư vú, phổi, hạch lympho, u sắc tố, u trung biểu mô cũng chịu thêm hậu quả viêm màng ngoài tim co thắt. Tuy nhiên cũng có người bị viêm màng ngoài tim co thắt nhưng không rõ nguyên nhân.

Tổn thương canxi hóa màng ngoài tim, giãn nhĩ phải và nhĩ trái trên phim chụp cắt lớp.
Dấu hiệu để phát hiện bệnh sớm

Nếu bạn bị mắc một trong các bệnh là nguyên nhân gây viêm màng ngoài tim co thắt kể trên, bạn cần cảnh giác để phát hiện sớm bệnh nhờ các dấu hiệu: ban đầu là biểu hiện mệt, xỉu, giảm khả năng gắng sức, sau đó thấy xuất hiện các triệu chứng của suy tim trái như khó thở khi gắng sức và khó thở về đêm. Đến giai đoạn nặng của bệnh sẽ thấy các dấu hiệu giống như suy tim phải đó là phù ngoại biên, căng tức bụng và cổ trướng. Ở một số bệnh nhân màng ngoài tim có thể tiến triển dày, tạo sẹo và co cứng. Khi đó màng ngoài tim mất hẳn tính đàn hồi và trở nên cứng nhắc, thắt chặt xung quanh tim.

Chèn ép tim xảy ra khi có quá nhiều chất dịch ở trong màng ngoài tim. Chất dịch dư thừa sẽ tạo áp lực cho tim, làm cho tim kém giãn trong thì trương nên khi tim bóp có ít máu được tống đi, gây ra giảm đáng kể lượng máu đi nuôi cơ thể. Tình trạng này dẫn đến triệu chứng sưng chân và nặng bụng, khó thở. Nếu không được chẩn đoán và điều trị, chèn ép tim có thể gây tử vong. Khám thấy bệnh nhân có tĩnh mạch cổ nổi, nghe thấy tiếng tim mờ do màng ngoài tim dày.

Nghe phổi thấy giảm rì rào phế nang do sung huyết phổi hay tràn dịch màng phổi. Các dấu hiệu gan to, xơ gan với biểu hiện bụng cổ trướng rõ, phù hai chi dưới, sau đó có thể phù toàn thân. Trong khi lắng nghe tim, bác sĩ sẽ đặt một ống nghe trên ngực để kiểm tra các âm thanh đặc trưng của viêm màng ngoài tim, được thực hiện khi các lớp màng ngoài tim chà xát với nhau. Tiếng ồn này đặc trưng được gọi là chà xát màng ngoài tim.
Xét nghiệm điện tâm đồ thấy dấu hiệu dày nhĩ trái. Chụp Xquang thấy hình ảnh màng ngoài tim bị canxi hoá; tràn dịch màng phổi; giãn nhĩ phải và nhĩ trái. Siêu âm có thể thấy độ dày của màng ngoài tim tăng lên và cũng thấy cả dấu hiệu vôi hoá của màng ngoài tim.

Hình ảnh siêu âm tổn thương tim do viêm màng ngoài tim co thắt.
Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh

Đối với bệnh nhân ở giai đoạn đầu có thể điều trị nội khoa bảo tồn bằng thuốc lợi tiểu và chế độ ăn hạn chế muối. Mặt khác điều trị nội khoa cũng được chỉ định ở các bệnh nhân quá nặng không còn chỉ định mổ.

Phẫu thuật cắt màng ngoài tim là phương pháp điều trị chủ yếu được lựa chọn. Sau mổ, trên 90% bệnh nhân có cải thiện triệu chứng đáng kể. Tuy nhiên cần phải cân nhắc kỹ từng trường hợp vì tỷ lệ tử vong trong và ngay sau mổ tương đối cao, từ 5 – 20%. Vì tỉ lệ tử vong cao nên các bác sĩ phẫu thuật thường quyết định mổ sớm cho bệnh nhân chứ không đợi đến khi thể trạng bệnh nhân đã bị suy sụp do bệnh diễn biến kéo dài, tổn thương đã nặng.

Việc phòng bệnh chủ yếu là loại trừ nguyên nhân gây bệnh như khám phát hiện và điều trị triệt để các bệnh: nhiễm vi khuẩn, virut, nấm, ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh lao. Đối với các bệnh rối loạn miễn dịch như thấp tim, lupus ban đỏ, sarcoidose cũng phải điều trị tích cực. Những bệnh nhân sau chấn thương hoặc phẫu thuật tim, điều trị bằng tia xạ, bệnh nhân bị ung thư các loại cần khám định kỳ để phát hiện sớm và điều trị kịp thời viêm màng ngoài tim co thắt.

ThS. Trần Quốc An

LEAVE A REPLY